image banner
An ninh mạng trong chuyển đổi số: Nền tảng bảo vệ dữ liệu và niềm tin số
Lượt xem: 85

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực – từ chính phủ điện tử, kinh tế số đến xã hội số – an ninh mạng trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhất để bảo đảm sự phát triển bền vững của không gian số.

Luật An ninh mạng 2025 (Luật số 116/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, đã tạo ra hành lang pháp lý mới nhằm tăng cường bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và các hoạt động trên không gian mạng, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.

An ninh mạng – “lá chắn” của chuyển đổi số

Theo quy định của Luật, an ninh mạng được hiểu là sự ổn định, an ninh, an toàn của không gian mạng; bảo vệ hệ thống thông tin và bảo đảm thông tin, dữ liệu, hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trong tiến trình chuyển đổi số, mọi hoạt động từ hành chính công, thương mại điện tử đến tài chính số đều phụ thuộc vào dữ liệu và hệ thống mạng. Vì vậy, an ninh mạng không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn là yếu tố sống còn của nền kinh tế số.

Các quy định trọng tâm trong Luật An ninh mạng 2025

1. Bảo vệ hệ thống thông tin trong môi trường số

Luật quy định phân loại và bảo vệ các hệ thống thông tin theo cấp độ, trong đó các hệ thống quan trọng về an ninh quốc gia phải được giám sát, kiểm tra và bảo vệ nghiêm ngặt.

Các biện pháp bảo vệ bao gồm:

- Thẩm định an ninh mạng;

- Đánh giá điều kiện an ninh mạng;

- Kiểm tra an ninh mạng;

- Giám sát an ninh mạng;

- Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng;

- Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng;

- Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng;

- Sử dụng giải pháp kỹ thuật để bảo vệ an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu, hệ thống thông tin; ngăn chặn thông tin vi phạm pháp luật;

- Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

- Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;

- Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

- Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Biện pháp khác theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

2. Nghiêm cấm hành vi xâm phạm không gian mạng

Luật nghiêm cấm các hành vi:

- Đăng tải, phát tán thông tin chống Nhà nước; xuyên tạc, phỉ báng chính quyền; kích động chiến tranh, chia rẽ dân tộc, tôn giáo; xúc phạm quốc gia, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc. Đồng thời cấm xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết; xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử giới tính, chủng tộc. Nghiêm cấm bịa đặt, vu khống, đưa thông tin sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng kinh tế - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, chứng khoán và đa cấp.

- Thực hiện các hành vi chống phá, lôi kéo, tổ chức, huấn luyện người chống Nhà nước; kích động bạo lực, tụ tập gây rối, chống người thi hành công vụ. Chiếm đoạt, mua bán, làm lộ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh; xâm phạm đời tư cá nhân; nghe lén, ghi âm, ghi hình trái phép; sử dụng sản phẩm mật mã dân sự không rõ nguồn gốc. Thực hiện hoặc tuyên truyền hoạt động mại dâm, mua bán người, tệ nạn xã hội; phát tán văn hóa phẩm đồi trụy; cổ xúy bạo lực, lối sống lệch chuẩn. Lừa đảo, đánh bạc trực tuyến, trộm cắp cước viễn thông, vi phạm bản quyền; giả mạo website, tài khoản; chiếm đoạt, mua bán trái phép dữ liệu tài khoản ngân hàng, thẻ tín dụng, tài sản số; sử dụng phương tiện thanh toán trái phép; giả mạo giấy tờ cơ quan, tổ chức; sử dụng AI để giả mạo hình ảnh, giọng nói, video trái phép; thu thập, mua bán dữ liệu cá nhân trái phép; xúi giục người khác phạm tội hoặc vi phạm pháp luật.

- Thực hiện tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng; gây sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm gián đoạn hoặc phá hoại hệ thống thông tin.

- Sản xuất, phát tán phần mềm độc hại, công cụ gây rối, thư rác, tin nhắn rác, cuộc gọi rác hoặc các chương trình gây ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống mạng, thiết bị điện tử.

- Xâm nhập trái phép vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, thiết bị điện tử của tổ chức, cá nhân.

- Chống đối, cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; vô hiệu hóa biện pháp bảo vệ an ninh mạng trái pháp luật.

- Lợi dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc trục lợi.

- Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

3. Nhiệm vụ, biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin

Quy định về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm gồm: xác định cấp độ an ninh mạng của hệ thống, đặc biệt với hệ thống quan trọng về an ninh quốc gia; đánh giá và quản lý rủi ro an ninh mạng; giám sát, kiểm tra và đôn đốc công tác bảo vệ; tổ chức triển khai các biện pháp kỹ thuật và quản lý; thực hiện chế độ báo cáo; đồng thời tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an ninh mạng.

Các biện pháp bảo vệ bao gồm: ban hành quy định an toàn trong thiết kế, vận hành và hủy bỏ hệ thống thông tin; thẩm định và đánh giá an ninh mạng; áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật, bao gồm giải pháp phòng chống và khắc phục sự cố; lưu trữ, sao lưu dữ liệu an toàn; kiểm tra, giám sát tuân thủ; triển khai hệ thống giám sát an ninh mạng; và thực hiện ứng phó, xử lý sự cố khi xảy ra tấn công mạng.

Luật cũng phân loại trách nhiệm theo cấp độ hệ thống: hệ thống cấp độ 1 và 2 thực hiện các nhiệm vụ cơ bản và lựa chọn biện pháp phù hợp; hệ thống cấp độ 3, 4 phải áp dụng đầy đủ các biện pháp cốt lõi, đặc biệt là giám sát và ứng phó sự cố; trong khi hệ thống quan trọng về an ninh quốc gia phải thực hiện đầy đủ toàn bộ nhiệm vụ và biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt nhất.

4. Trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trong đó nhấn mạnh vai trò của cả cơ quan chủ quản và lực lượng chuyên trách.

Theo đó, chủ quản hệ thống phải thực hiện kiểm tra an ninh mạng trước khi đưa hệ thống vào vận hành; định kỳ hằng năm tự đánh giá và báo cáo kết quả cho lực lượng chuyên trách; đồng thời phối hợp giám sát thường xuyên, xây dựng cơ chế cảnh báo sớm và phương án ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng. Khi xảy ra sự cố, chủ quản hệ thống có trách nhiệm triển khai xử lý kịp thời và báo cáo theo quy định.

Bên cạnh đó, Bộ Công an giữ vai trò thẩm định, đánh giá, chứng nhận điều kiện an ninh mạng; thực hiện kiểm tra đột xuất, giám sát và cảnh báo nguy cơ tấn công mạng; đồng thời chủ trì điều phối ứng phó, khắc phục sự cố đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (trừ hệ thống quân sự và cơ yếu).

Đối với lĩnh vực quân sự, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm toàn diện về thẩm định, kiểm tra, giám sát và điều phối xử lý sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự. Trong khi đó, Ban Cơ yếu Chính phủ đảm nhiệm việc triển khai giải pháp mật mã bảo vệ bí mật nhà nước và tham gia thẩm định, giám sát, ứng phó sự cố đối với hệ thống thông tin cơ yếu.

Kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức không thuộc danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

Việc kiểm tra được thực hiện khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng hoặc khi chủ quản hệ thống có đề nghị kiểm tra. Nội dung kiểm tra bao gồm phần cứng, phần mềm và thiết bị số trong hệ thống; dữ liệu được lưu trữ, xử lý và truyền đưa; cũng như các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước và phòng ngừa lộ, mất bí mật qua các kênh kỹ thuật.

Chủ quản hệ thống có trách nhiệm báo cáo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi phát hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, lực lượng chuyên trách có quyền tiến hành kiểm tra an ninh mạng và kết quả kiểm tra phải được bảo mật theo quy định.

Ngoài các nội dung đã nêu, Luật còn quy định về công tác phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng trên không gian mạng, trong đó tập trung kiểm soát thông tin và các hành vi sử dụng công nghệ nhằm chống phá, gây mất an ninh trật tự, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như an ninh quốc gia; quy định về hoạt động bảo vệ an ninh mạng, nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong việc xây dựng, vận hành, quản lý và bảo đảm an toàn hệ thống thông tin. Luật đặt ra các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sản phẩm và dịch vụ an ninh mạng nhằm thống nhất quản lý, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng và các điều kiện bảo đảm, góp phần nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng quốc gia một cách toàn diện, bền vững, cùng với việc xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong công tác bảo đảm an ninh mạng.

Luật An ninh mạng quy định toàn diện các nguyên tắc, biện pháp và trách nhiệm nhằm bảo vệ không gian mạng quốc gia, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số. Luật không chỉ xác định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế phòng ngừa, xử lý vi phạm mà còn phân định trách nhiệm cụ thể giữa cơ quan nhà nước, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và người sử dụng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.


TIN MỚI
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
Đăng nhập

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ TRÀ LIÊN - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: Thôn Định Yên, Xã Trà Liên, Thành Phố Đà Nẵng 

Trưởng Ban biên tập: Đồng chí Dương Minh Anh  - Phó Chủ tịch UBND xã Trà Liên 

Số điện thoại : 097.1035.598 Mail: ubndxatralien@danang.gov.vn 

Bản Quyền thuộc về UBND xã Trà Liên

 Designed by VNPT