An ninh mạng trong chuyển đổi số: Nền tảng bảo vệ dữ liệu và niềm tin số
Trong bối cảnh
Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực – từ chính phủ điện tử,
kinh tế số đến xã hội số – an ninh mạng trở thành một trong những trụ cột quan
trọng nhất để bảo đảm sự phát triển bền vững của không gian số.
Luật An ninh
mạng 2025 (Luật số 116/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, đã tạo ra
hành lang pháp lý mới nhằm tăng cường bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và các
hoạt động trên không gian mạng, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.
An ninh mạng
– “lá chắn” của chuyển đổi số
Theo quy định
của Luật, an ninh mạng được hiểu là sự ổn định, an ninh, an toàn của không gian
mạng; bảo vệ hệ thống thông tin và bảo đảm thông tin, dữ liệu, hoạt động trên
không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trong tiến
trình chuyển đổi số, mọi hoạt động từ hành chính công, thương mại điện tử đến
tài chính số đều phụ thuộc vào dữ liệu và hệ thống mạng. Vì vậy, an ninh mạng
không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn là yếu tố sống còn của nền kinh tế số.
Các quy định
trọng tâm trong Luật An ninh mạng 2025
1. Bảo vệ
hệ thống thông tin trong môi trường số
Luật quy định
phân loại và bảo vệ các hệ thống thông tin theo cấp độ, trong đó các hệ thống
quan trọng về an ninh quốc gia phải được giám sát, kiểm tra và bảo vệ nghiêm ngặt.
Các biện
pháp bảo vệ bao gồm:
- Thẩm định an ninh
mạng;
- Đánh giá điều kiện
an ninh mạng;
- Kiểm tra an ninh mạng;
- Giám sát an ninh mạng;
- Ứng phó, khắc phục
sự cố an ninh mạng;
- Đấu tranh bảo vệ
an ninh mạng;
- Sử dụng mật mã để
bảo vệ thông tin mạng;
- Sử dụng giải pháp
kỹ thuật để bảo vệ an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu, hệ thống thông tin;
ngăn chặn thông tin vi phạm pháp luật;
- Ngăn chặn, yêu cầu
tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động
thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng
thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;
- Yêu cầu xóa bỏ,
truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả
trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Thu thập dữ liệu
điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;
- Phong tỏa, hạn chế
hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt
động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;
- Khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Biện pháp khác
theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính.
2. Nghiêm
cấm hành vi xâm phạm không gian mạng
Luật
nghiêm cấm các hành vi:
- Đăng tải, phát tán thông tin chống Nhà nước; xuyên
tạc, phỉ báng chính quyền; kích động chiến tranh, chia rẽ dân tộc, tôn giáo;
xúc phạm quốc gia, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc. Đồng thời cấm xuyên tạc
lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết; xúc phạm tôn
giáo, phân biệt đối xử giới tính, chủng tộc. Nghiêm cấm bịa đặt, vu khống, đưa
thông tin sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân; gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng kinh tế - xã hội,
đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, chứng khoán
và đa cấp.
- Thực hiện các hành vi chống phá, lôi kéo, tổ chức,
huấn luyện người chống Nhà nước; kích động bạo lực, tụ tập gây rối, chống người
thi hành công vụ. Chiếm đoạt, mua bán, làm lộ bí mật nhà nước, bí mật kinh
doanh; xâm phạm đời tư cá nhân; nghe lén, ghi âm, ghi hình trái phép; sử dụng sản
phẩm mật mã dân sự không rõ nguồn gốc. Thực hiện hoặc tuyên truyền hoạt động mại
dâm, mua bán người, tệ nạn xã hội; phát tán văn hóa phẩm đồi trụy; cổ xúy bạo lực,
lối sống lệch chuẩn. Lừa đảo, đánh bạc trực tuyến, trộm cắp cước viễn thông, vi
phạm bản quyền; giả mạo website, tài khoản; chiếm đoạt, mua bán trái phép dữ liệu
tài khoản ngân hàng, thẻ tín dụng, tài sản số; sử dụng phương tiện thanh toán
trái phép; giả mạo giấy tờ cơ quan, tổ chức; sử dụng AI để giả mạo hình ảnh, giọng
nói, video trái phép; thu thập, mua bán dữ liệu cá nhân trái phép; xúi giục người
khác phạm tội hoặc vi phạm pháp luật.
- Thực hiện tấn công
mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng; gây sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển,
làm gián đoạn hoặc phá hoại hệ thống thông tin.
- Sản xuất, phát tán
phần mềm độc hại, công cụ gây rối, thư rác, tin nhắn rác, cuộc gọi rác hoặc các
chương trình gây ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống mạng, thiết bị điện tử.
- Xâm nhập trái phép vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ
liệu, thiết bị điện tử của tổ chức, cá nhân.
- Chống đối, cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ
an ninh mạng; vô hiệu hóa biện pháp bảo vệ an ninh mạng trái pháp luật.
- Lợi dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm
lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc trục lợi.
- Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.
3. Nhiệm vụ, biện
pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin
Quy định về bảo
vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin nêu rõ các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
xác định cấp độ an ninh mạng của hệ thống, đặc biệt với hệ thống quan trọng về
an ninh quốc gia; đánh giá và quản lý rủi ro an ninh mạng; giám sát, kiểm tra
và đôn đốc công tác bảo vệ; tổ chức triển khai các biện pháp kỹ thuật và quản
lý; thực hiện chế độ báo cáo; đồng thời tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an
ninh mạng.
Các biện pháp
bảo vệ bao gồm: ban hành quy định an toàn trong thiết kế, vận hành và hủy bỏ hệ
thống thông tin; thẩm định và đánh giá an ninh mạng; áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật,
bao gồm giải pháp phòng chống và khắc phục sự cố; lưu trữ, sao lưu dữ liệu an
toàn; kiểm tra, giám sát tuân thủ; triển khai hệ thống giám sát an ninh mạng;
và thực hiện ứng phó, xử lý sự cố khi xảy ra tấn công mạng.
Luật cũng
phân loại trách nhiệm theo cấp độ hệ thống: hệ thống cấp độ 1 và 2 thực hiện
các nhiệm vụ cơ bản và lựa chọn biện pháp phù hợp; hệ thống cấp độ 3, 4 phải áp
dụng đầy đủ các biện pháp cốt lõi, đặc biệt là giám sát và ứng phó sự cố; trong
khi hệ thống quan trọng về an ninh quốc gia phải thực hiện đầy đủ toàn bộ nhiệm
vụ và biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt nhất.
4. Trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan
trọng về an ninh quốc gia
Trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng đối với hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trong đó nhấn mạnh vai trò của
cả cơ quan chủ quản và lực lượng chuyên trách.
Theo đó, chủ quản hệ thống phải thực hiện
kiểm tra an ninh mạng trước khi đưa hệ thống vào vận hành; định kỳ hằng năm tự
đánh giá và báo cáo kết quả cho lực lượng chuyên trách; đồng thời phối hợp giám
sát thường xuyên, xây dựng cơ chế cảnh báo sớm và phương án ứng phó, khắc phục
sự cố an ninh mạng. Khi xảy ra sự cố, chủ quản hệ thống có trách nhiệm triển
khai xử lý kịp thời và báo cáo theo quy định.
Bên cạnh đó, Bộ Công an giữ vai trò thẩm định,
đánh giá, chứng nhận điều kiện an ninh mạng; thực hiện kiểm tra đột xuất, giám
sát và cảnh báo nguy cơ tấn công mạng; đồng thời chủ trì điều phối ứng phó, khắc
phục sự cố đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (trừ hệ thống
quân sự và cơ yếu).
Đối với lĩnh vực quân sự, Bộ Quốc phòng chịu
trách nhiệm toàn diện về thẩm định, kiểm tra, giám sát và điều phối xử lý sự cố
an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự. Trong khi đó, Ban Cơ yếu Chính
phủ đảm nhiệm việc triển khai giải pháp mật mã bảo vệ bí mật nhà nước và tham
gia thẩm định, giám sát, ứng phó sự cố đối với hệ thống thông tin cơ yếu.
Kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan,
tổ chức không thuộc danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
Việc kiểm tra
được thực hiện khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng hoặc
khi chủ quản hệ thống có đề nghị kiểm tra. Nội dung kiểm tra bao gồm phần cứng,
phần mềm và thiết bị số trong hệ thống; dữ liệu được lưu trữ, xử lý và truyền
đưa; cũng như các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước và phòng ngừa lộ, mất bí mật
qua các kênh kỹ thuật.
Chủ quản hệ
thống có trách nhiệm báo cáo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc
Bộ Công an khi phát hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, lực lượng chuyên trách có
quyền tiến hành kiểm tra an ninh mạng và kết quả kiểm tra phải được bảo mật
theo quy định.
Ngoài các nội
dung đã nêu, Luật còn quy định về công tác phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm
an ninh mạng trên không gian mạng, trong đó tập trung kiểm soát thông tin và
các hành vi sử dụng công nghệ nhằm chống phá, gây mất an ninh trật tự, xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như an ninh quốc gia; quy định về hoạt động bảo vệ an
ninh mạng, nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong việc
xây dựng, vận hành, quản lý và bảo đảm an toàn hệ thống thông tin. Luật đặt ra
các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sản phẩm và dịch vụ an ninh mạng
nhằm thống nhất quản lý, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đồng
thời, quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng và các điều kiện bảo đảm, góp
phần nâng cao năng lực bảo vệ an ninh mạng quốc gia một cách toàn diện, bền vững,
cùng với việc xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong
công tác bảo đảm an ninh mạng.
Luật An ninh
mạng quy định toàn diện các nguyên tắc, biện pháp và trách nhiệm nhằm bảo vệ
không gian mạng quốc gia, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh dữ liệu trong bối
cảnh chuyển đổi số. Luật không chỉ xác định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế
phòng ngừa, xử lý vi phạm mà còn phân định trách nhiệm cụ thể giữa cơ quan nhà
nước, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và người sử dụng. Đây là cơ sở pháp lý quan
trọng góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh, phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.