Luật tiếp cận thông tin được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 6/4/2016. Chủ tịch
nước ký lệnh công bố ngày 19/4/2016. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2018; gồm 5 Chương, 37 Điều.

Quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền
cơ bản của con người, của công dân thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị đã được
ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948,
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành
viên. Quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được khẳng định trong nhiều điều ước quốc
tế khác như Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, Tuyên bố Rio về Môi
trường và phát triển, Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường. Ở nước
ta, Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên xác định quyền được thông tin là quyền cơ bản
của công dân. Cụ thể hóa Hiến pháp, cùng với quá trình đổi mới kinh tế, hội nhập
quốc tế, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo các nguyên tắc của nhà
nước pháp quyền, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật có quy định về thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền được thông
tin của công dân trong một số lĩnh vực, góp phần xây dựng một xã hội cởi mở hơn
về thông tin và một Chính phủ công khai, minh bạch hơn, trách nhiệm giải trình
cao hơn trong hoạt động quản lý, điều hành đất nước, góp phần đưa chủ trương
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” từng bước đi vào cuộc sống. Tuy
nhiên, thực tiễn thực hiện quyền được thông tin và pháp luật về quyền được
thông tin của công dân ở nước ta thời gian qua còn có những vướng mắc, bất cập,
chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Do vậy ngày 6/4/2016 tại kỳ họp thứ
11 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật
tiếp cận thông tin. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018. Luật gồm 5
Chương, 37 Điều:
Luật tiếp cận thông tin có một số nội dung cần
lưu ý:
Về nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông
tin: Quyền tiếp cận thông tin là một trong những
quyền cơ bản của công dân, tạo tiền đề cho việc hưởng các quyền và lợi ích khác
và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin mang lại ý nghĩa, lợi ích thực sự cho người
dân, không mang tính hình thức, cũng như để thể chế hóa nội dung và tinh thần của
Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền cơ
bản của công dân. Luật đưa ra nguyên tắc là mọi công dân đều bình đẳng, không bị
phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được
cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch,
thuận lợi cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; việc
hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết
vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng; việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân
không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức hoặc của người khác; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người
khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều
3).
Về hành vi bị nghiêm cấm: Công dân có quyền tiếp cận thông tin theo quy định của Hiến pháp năm
2013. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm quyền tiếp cận thông
tin. Tuy nhiên quyền tiếp cận thông tin không phải là quyền không có giới hạn,
do đó, trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin công dân và cơ quan nhà nước
đều có nghĩa vụ nhất định và không được thực hiện các hành vi cố ý cung cấp
thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn việc cung cấp thông tin; hủy hoại
thông tin; làm giả thông tin; cung cấp hoặc sử dụng thông tin để chống lại Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết, kích động
bạo lực; cung cấp hoặc sử dụng thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy
tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức;
cản trở, đe dọa, trù dập người yêu cầu, người cung cấp thông tin.
Về chi phí tiếp cận thông tin: Cung cấp thông tin là trách nhiệm của nhà nước, do vậy, Luật không đặt
ra việc thu phí hay lệ phí tiếp cận thông tin, trừ trường hợp luật khác có quy
định. Người yêu cầu cung cấp thông tin chỉ phải trả các chi phí thực tế cho việc
in ấn, sao chụp, gửi thông tin. Về mức chi phí cụ thể, việc quản lý và sử dụng
chi phí cung cấp thông tin, Luật ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ
thể.
Về chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông
tin: Cụ thể hóa quy định
tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền ... tiếp cận thông tin”,
Luật quy định chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin là công dân (khoản 1
Điều 4). Bên cạnh đó, Luật còn quy định việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của
nhóm đối tượng là người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi và người dưới 18 tuổi thực hiện quyền tiếp cận thông tin
thông qua người đại diện theo pháp luật (khoản 2, khoản 3 Điều 4). Đối với các
trường hợp là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam được bảo hộ một số quyền, lợi
ích chính đáng theo nguyên tắc đối xử quốc gia hoặc có đi có lại, bởi vậy, Luật
quy định họ chỉ được yêu cầu cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến
quyền và nghĩa vụ của họ (khoản 1 Điều 36).
Về chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông
tin: Xuất phát từ
quan điểm chỉ đạo Luật điều chỉnh mối quan hệ về tiếp cận thông tin giữa Nhà nước
và công dân, do đó, Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ cơ
quan hành pháp, tư pháp đến cơ quan lập pháp cung cấp thông tin cho công dân; đồng
thời quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm
quyền tiếp cận thông tin của công dân. Điều cần lưu ý là các cơ quan chỉ có
trách nhiệm cung cấp các thông tin thuộc phạm vi thông tin được tiếp cận và do
mình tạo ra. Riêng đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện khó
khăn, để tạo thuận lợi cho công dân trong việc yêu cầu cung cấp thông tin và
căn cứ vào thực tiễn nắm giữ thông tin của Ủy ban nhân dân cấp xã (là nơi tiếp
nhận hầu hết các thông tin chính thức của các cơ quan nhà nước cấp trên như các
chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật... và là cấp cơ sở gần với người dân
nhất, nơi cung cấp và giải đáp mọi nhu cầu, vướng mắc cho người dân), Luật giao
thêm trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc cung cấp thông tin
do mình nhận được từ cơ quan khác để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình.
Về cách thức tiếp cận thông tin: Luật quy định công dân được tiếp cận
thông tin bằng hai cách thức: Tự do tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước công
khai; Yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin (Điều 10).
Về phạm vi thông tin được tiếp cận: Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người
dân trong việc xác định phạm vi thông tin mà mình được tiếp cận, Luật quy định
về thông tin công dân được tiếp cận (Điều 5), thông tin công dân không được tiếp
cận (Điều 6) và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện (Điều 7). Theo
đó, công dân được tiếp cận tất cả thông tin của cơ quan nhà nước theo quy định
của Luật này, trừ thông tin công dân không được tiếp cận quy định tại Điều 6 của
Luật và được tiếp cận có điều kiện đối với thông tin quy định tại Điều 7 của Luật.
Về thông tin công dân không được tiếp cận đó
là Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm
những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an
ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác
theo quy định của luật. Thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi
ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc
tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại
đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật
công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ
quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ.
Thông tin công dân được tiếp cận có điều
kiện đó là: Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh
được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý. Thông
tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong
trường hợp được người đó đồng ý; thông tin liên quan đến bí mật gia đình được
tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý. Trong quá trình
thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan nhà
nước quyết định việc cung cấp thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong trường hợp cần thiết vì lợi ích
công cộng, sức khỏe của cộng đồng theo quy định của luật có liên quan mà không
cần có sự đồng ý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Trên cơ sở 02
cách thức tiếp cận được quy định tại Điều 10, Luật quy định cụ thể phạm vi
thông tin mà cơ quan nhà nước phải công khai và cung cấp theo yêu cầu.
Về xử lý thông tin công khai không chính
xác và thông tin cung cấp theo yêu cầu không chính xác: Nhằm đảm bảo thông tin được cung cấp phải
kịp thời, chính xác, đầy đủ, Luật quy định cụ thể về các trường hợp, trách nhiệm
của các cơ quan công khai không chính xác và thông tin cung cấp theo yêu cầu
không chính xác, đồng thời quy định về thời gian, hình thức để đính chính, công
khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu chính xác, kịp thời (Điều 22,
Điều 32).
Về biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông
tin của công dân: Điều
33 của Luật quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận
thông tin của công dân, đó là:Bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuyên môn,
nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin trong việc bảo đảm
quyền tiếp cận thông tin của công dân. Vận hành cổng thông tin điện
tử, trang thông tin điện tử; xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu thông tin mà cơ
quan có trách nhiệm cung cấp theo quy định của Chính phủ. Tăng cường
cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan và các
phương tiện thông tin đại chúng. Xác định đơn vị, cá nhân làm đầu mối
cung cấp thông tin. Bố trí hợp lý nơi tiếp công dân để cung cấp
thông tin phù hợp với điều kiện của từng cơ quan. Củng cố, kiện
toàn công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị các phương tiện kỹ thuật,
công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết khác để người yêu cầu có thể trực
tiếp đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp tài liệu tại trụ sở cơ quan nhà
nước và qua mạng điện tử.
Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân: Để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận
thông tin của công dân, Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
trong việc xác định đơn vị, cá nhân làm đầu mối cung cấp thông tin; lập, cập nhật,
công khai Danh mục thông tin phải được công khai; duy trì, lưu giữ, cập nhật cơ
sở dữ liệu thông tin có trách nhiệm cung cấp, bảo đảm thông tin có hệ thống, đầy
đủ, toàn diện, kịp thời, dễ dàng tra cứu; rà soát, phân loại, kiểm tra và bảo đảm
tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp… Bộ Thông tin và Truyền thông giúp
Chính phủ thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn kỹ thuật các biện pháp và quy trình bảo
vệ thông tin và bảo vệ các hệ thống quản lý thông tin. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ
theo dõi chung việc thi hành Luật này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm
quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh mình, thi hành các biện pháp bảo đảm quyền
tiếp cận thông tin của công dân theo hướng dẫn của Chính phủ.
Nguyễn Quốc Sỹ