TUYÊN TRUYỀN ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC LẮP ĐẶT, VẬN HÀNH CÁC TRẠM THU PHÁT SÓNG TẠI KHU VỰC DÂN SINH
Thực hiện Công
văn của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng về việc cung cấp “Tài liệu
tuyên truyền ảnh hưởng của việc lắp đặt, vận hành các trạm thu phát sóng tại
khu vực dân sinh”, UBND xã Trà Liên tổ chức tuyên truyền đến người dân nhằm nâng cao nhận thức về
vai trò, chức năng của các trạm thu phát sóng thông tin di động (BTS) và các
quy định bảo đảm an toàn sức khỏe cộng đồng.
1. Tổng quan về sự phát triển của thông tin di động
Thông tin di động đã trải qua nhiều thế hệ phát triển, từ
2G đến 3G, 4G và hiện
tại là 5G. Mỗi thế hệ đều đánh dấu sự cải tiến lớn về tốc độ truyền dữ liệu,
khả năng kết nối, và dung lượng mạng. 2G ra đời vào những năm 1990, cho phép
truyền dữ liệu văn bản (SMS). 3G, xuất hiện vào đầu những năm 2000, cung cấp
dịch vụ Internet di động với tốc độ nhanh hơn, hỗ trợ các dịch vụ dữ liệu nặng
như video và email. 4G tiếp tục nâng cao tốc độ và chất lượng, cho phép phát
video độ phân giải cao và các ứng dụng trực tuyến yêu cầu dung lượng lớn. Hiện tại, mạng 5G đang được triển khai với khả năng kết
nối mạnh mẽ, tốc độ cao gấp nhiều lần 4G và độ trễ cực thấp, mở ra tiềm năng
cho các ứng dụng Internet vạn vật (IoT), xe tự lái và thành phố thông minh.
Tính đến tháng
3/2024, tại Việt Nam, với hơn 122 triệu thuê bao di động và hơn 100.000 trạm phát
sóng di động phủ sóng toàn quốc, hệ
thống thông tin di động đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối và hỗ trợ
phát triển kinh tế - xã hội.
2. Chức năng của trạm phát sóng thông tin di động
Trạm gốc thông tin di động, hay còn gọi là Base
Transceiver Station (BTS), là một thành phần thiết yếu trong mạng viễn thông di
động. Chức năng chính của trạm BTS là thu phát tín hiệu vô tuyến giữa mạng di động
và các thiết bị di động (như điện thoại, máy tính bảng). Đây là hệ thống cốt
lõi để duy trì kết nối mạng không dây cho người dùng di động. Dưới đây là các
chức năng chính của trạm gốc BTS:
Kết nối và truyền tải dữ liệu
Trạm BTS đóng vai trò như một cầu nối giữa các thiết bị
di động và mạng lõi (core network) của nhà mạng. Khi người dùng thực hiện cuộc
gọi, gửi tin nhắn hoặc truyền tải dữ liệu, tín hiệu sẽ được trạm BTS thu nhận
và truyền tới mạng lõi, sau đó chuyển tiếp đến đích.
Phủ sóng di động
Mỗi trạm BTS bao phủ một khu vực nhất định (gọi là cell),
tạo nên mạng lưới phủ sóng cho người dùng di động. Các trạm BTS được đặt chiến
lược ở các khu vực khác nhau để đảm bảo chất lượng kết nối ổn định và vùng phủ
sóng rộng, đặc biệt ở những nơi đông dân cư.
Quản lý giao tiếp giữa các trạm BTS
Trạm BTS có khả năng giao tiếp với các trạm BTS lân cận.
Điều này rất quan trọng khi người dùng di chuyển từ khu vực phủ sóng của một trạm
BTS sang khu vực của trạm khác. Trong quá trình chuyển giao (handover), trạm
BTS đảm bảo người dùng không bị mất kết nối khi di chuyển.
Điều khiển và quản lý tài nguyên vô tuyến
Trạm BTS phân bổ và điều khiển các kênh vô tuyến, đảm bảo
mỗi thiết bị di động sử dụng một kênh riêng để tránh nhiễu sóng và đảm bảo chất
lượng dịch vụ. Nó cũng quản lý việc chia sẻ tài nguyên giữa nhiều người dùng
trong khu vực phủ sóng.
Điều chỉnh công
suất phát
Để tiết kiệm năng lượng và tránh gây nhiễu lẫn nhau, trạm
BTS có thể tự động điều chỉnh công suất phát tín hiệu dựa trên khoảng cách giữa
trạm và thiết bị di động. Khi thiết bị ở gần, công suất sẽ giảm; khi thiết bị ở
xa, công suất phát sẽ tăng.
Bảo mật và mã hóa dữ liệu
Trạm BTS cũng có chức năng bảo mật, mã hóa dữ liệu truyền
giữa thiết bị di động và mạng để ngăn chặn các cuộc tấn công hoặc truy cập trái
phép.
Tích hợp và hỗ trợ các thế hệ mạng khác nhau
BTS hỗ trợ nhiều loại mạng viễn thông di động như 2G
(GSM), 3G (UMTS), 4G (LTE), và 5G. Tùy theo công nghệ, trạm gốc có thể đảm nhận
các nhiệm vụ khác nhau liên quan đến việc truyền tải dữ liệu với tốc độ và hiệu
suất khác nhau.
Tăng cường và tối ưu hóa chất lượng dịch vụ
Trạm BTS liên tục theo dõi chất lượng kết nối và thực hiện
các điều chỉnh để tối ưu hóa chất lượng dịch vụ, bao gồm cả xử lý sự cố, điều
chỉnh lưu lượng và quản lý mức độ ưu tiên cho các loại dữ liệu khác nhau (cuộc
gọi, video, internet).
Tóm lại, trạm BTS là bộ phận quan trọng đảm bảo việc duy
trì kết nối di động ổn định và chất lượng cao, đồng thời hỗ trợ sự phát triển của
các dịch vụ viễn thông.
3. Nghiên cứu về ảnh hưởng của trạm phát
sóng điện thoại di động tới sức khoẻ
Cùng với việc viễn
thông di động, ngày càng có nhiều trạm thu, phát sóng điện thoại di động được lắp
đặt trong các khu vực dân cư. Các trạm phát sóng này thu và nhận các tần số vô
tuyến và do đó tạo ra bức xạ điện từ trường. Việc phơi nhiễm với sóng vô tuyến
từ các trạm phát sóng này có ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân sống xung quanh
hay không cho đến nay cũng chưa có công trình khoa học nào khẳng định chắc chắn.
Theo WHO, từ lâu
WHO đã
quan tâm tới những mối lo ngại chung về ảnh hưởng
lâu dài của các trạm phát sóng điện thoại có thể xảy ra đối với sức khỏe do việc
tiếp xúc với tần số vô tuyến có thể gây ra. Tuy nhiên WHO nhận định cho đến
nay, ảnh hưởng sức khoẻ rõ ràng duy nhất về ảnh hưởng của bức xạ điện từ trường
đối với sức khỏe đó là có liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ cơ thể (> 1 °C)
do tiếp xúc với bức xạ điện từ trường ở cường độ rất cao (chỉ thấy ở một số cơ
sở công nghiệp nhất định). Còn tiếp xúc với
bức xạ điện từ trường từ các trạm phát sóng và mạng không dây làm tăng nhiệt độ
ở mức không đáng kể và không ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Cũng theo WHO, trên thực tế cơ thể hấp thụ bức xạ điện từ
từ đài FM và đài truyền hình nhiều hơn tới 5 lần so với tín hiệu từ các trạm
phát sóng di động. Điều này là do tần
số được sử dụng trong đài FM (khoảng 100 MHz) và trong phát sóng truyền hình
(khoảng 300 đến 400 MHz) thấp hơn tần số được sử dụng trong điện thoại di động
(800 MHz đến 3000 MHz). Trong khi đó các đài phát thanh và truyền hình đã hoạt
động từ 50 năm trở lên mà không gây ra bất kỳ hậu quả xấu nào cho sức khỏe.
Tổ chức Y tế thế
giới cũng đã rà soát các nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ tiềm ẩn giữa các trạm
phát tần số vô tuyến và bệnh ung thư được công bố trong 15 năm qua và vẫn chưa
tìm thấy bằng chứng cho thấy việc tiếp xúc với tần số vô tuyến từ các máy (trạm)
phát sóng sẽ làm tăng nguy cơ ung thư. Hơn nữa các bệnh ung thư được báo cáo
trong các khu vực lắp đặt trạm thu phát sóng thường là tập hợp của các loại ung
thư khác nhau không có đặc điểm chung và do đó khó có thể có nguyên nhân chung.
Tương tự như vậy, các nghiên cứu dài hạn trên động vật chưa cho thấy nguy cơ mắc
bệnh ung thư tăng lên do tiếp xúc với bức xạ điện từ trường sóng vô tuyến, ngay
cả ở mức cao hơn nhiều so với mức do các trạm phát sóng và mạng không dây tạo
ra.
Nhiều nghiên cứu độc
lập xuất bản trên các tạp chí quốc tế đã cho kết quả khác biệt: Một số nghiên cứu
báo cáo không có tác động sức khỏe đáng kể nào từ việc tiếp xúc với các trạm
phát sóng di động, trong khi những nghiên cứu khác gợi ý những mối liên hệ tiềm
ẩn với một số vấn đề sức khỏe nhất định. Chất lượng và phương pháp luận của các
nghiên cứu này khác nhau đáng kể, khiến việc đưa ra kết luận dứt khoát trở nên
khó khăn.
Một nghiên cứu tổng
quan năm 2016 về ảnh hưởng sức khoẻ của những người dân sống gần trạm phát sóng
di động cho thấy một số cư dân sống gần trạm phát sóng có biểu hiện bị nhức đầu,
mệt mỏi và các triệu chứng không đặc hiệu khác. Tuy nhiên, rất khó để xác định
mối liên hệ nhân quả giữa những triệu chứng này với tiếp xúc tần số vô tuyến, ảnh
hưởng của các yếu tố tâm lý và các tác nhân gây căng thẳng môi trường khác.
Nghiên cứu cắt
ngang về phơi nhiễm của 250 người dân sống gần các trạm BTS tại Iran năm 2014 cho thấy những người sống gần ăng-ten
trạm phát sóng ở khoảng cách <300 m xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn,
nhức đầu, chóng mặt, khó chịu, căng thẳng, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, giảm
trí nhớ, giảm ham muốn tình dục so với những người sống xa ăng-ten trạm phát
sóng (>300 m) (sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê). Tuy nhiên đây là điều
tra cắt ngang dựa trên bảng hỏi, không có sự đánh giá mức độ phơi nhiễm cũng
như kiểm tra sức khỏe truyền hình đã hoạt động từ 50 năm trở lên mà không gây
ra bất kỳ hậu quả xấu nào cho sức khỏe.
Tổ chức Y tế thế
giới cũng đã rà soát các nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ tiềm ẩn giữa các trạm
phát tần số vô tuyến và bệnh ung thư được công bố trong 15 năm qua và vẫn chưa
tìm thấy bằng chứng cho thấy việc tiếp xúc với tần số vô tuyến từ các máy (trạm)
phát sóng sẽ làm tăng nguy cơ ung thư. Hơn nữa các bệnh ung thư được báo cáo
trong các khu vực lắp đặt trạm thu phát sóng thường là tập hợp của các loại ung
thư khác nhau không có đặc điểm chung và do đó khó có thể có nguyên nhân chung.
Tương tự như vậy, các nghiên cứu dài hạn trên động vật chưa cho thấy nguy cơ mắc
bệnh ung thư tăng lên do tiếp xúc với bức xạ điện từ trường sóng vô tuyến, ngay
cả ở mức cao hơn nhiều so với mức do các trạm phát sóng và mạng không dây tạo
ra.
Nhiều nghiên cứu độc
lập xuất bản trên các tạp chí quốc tế đã cho kết quả khác biệt: Một số nghiên cứu
báo cáo không có tác động sức khỏe đáng kể nào từ việc tiếp xúc với các trạm
phát sóng di động, trong khi những nghiên cứu khác gợi ý những mối liên hệ tiềm
ẩn với một số vấn đề sức khỏe nhất định. Chất lượng và phương pháp luận của các
nghiên cứu này khác nhau đáng kể, khiến việc đưa ra kết luận dứt khoát trở nên
khó khăn.
Một nghiên cứu tổng
quan năm 2016 về ảnh hưởng sức khoẻ của những người dân sống gần trạm phát sóng
di động cho thấy một số cư dân sống gần trạm phát sóng có biểu hiện bị nhức đầu,
mệt mỏi và các triệu chứng không đặc hiệu khác. Tuy nhiên, rất khó để xác định
mối liên hệ nhân quả giữa những triệu chứng này với tiếp xúc tần số vô tuyến, ảnh
hưởng của các yếu tố tâm lý và các tác nhân gây căng thẳng môi trường khác.
Nghiên cứu cắt
ngang về phơi nhiễm của 250 người dân sống gần các trạm BTS tại Iran năm 2014 cho thấy những người sống gần ăng-ten
trạm phát sóng ở khoảng cách <300 m xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn,
nhức đầu, chóng mặt, khó chịu, căng thẳng, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, giảm
trí nhớ, giảm ham muốn tình dục so với những người sống xa ăng-ten trạm phát
sóng (>300 m) (sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê). Tuy nhiên đây là điều
tra cắt ngang dựa trên bảng hỏi, không có sự đánh giá mức độ phơi nhiễm cũng
như kiểm tra sức khỏe người dân và đo lường
mối tương quan, do đó các tác giả cũng khuyến nghị cần có thêm những nghiên cứu
tiếp theo để đánh giá tác động của ăng ten trạm phát sóng.
Năm 2023 một
nghiên cứu về việc phơi nhiễm với ăng-ten trạm phát sóng (BTS) với sức khỏe của 240 người lao động
làm việc với các trạm phát sóng tại Iran, nghiên cứu bao gồm khám sức khỏe và
xét nghiệm máu cho người lao động. Kết quả cho thấy các thông số máu ở người vận
hành trạm phát sóng có nhiều thay đổi hơn so với nhóm đối chứng và có thể kết
luận rằng những tác động sức khỏe này là do phơi nhiễm nghề nghiệp với sóng từ
các trạm phát sóng.
Năm 2022 có một bài báo tổng quan về nguy cơ sức khỏe do
sóng vô tuyến gây ra đối với con người sống quanh các trạm phát sóng điện thoại
đi động được công bố trên tạp chí Environmental
Research. Bài báo đã rà soát 38 nghiên cứu trên toàn cầu, các nghiên cứu được
thực hiện trong điều kiện thực tế của đô thị với các trạm phát sóng điện thoại
gần các căn hộ được lựa chọn. Kết quả tổng quan cho thấy sóng vô tuyến từ các
trạm phát sóng có thể gây ra 3 nhóm vấn đề về sức khỏe gồm: bệnh tần số vô tuyến
(radiofrequency sickness), ung thư và thay đổi các thông số sinh hóa.
Mới đây nhất, tháng 9/2024, một nghiên cứu kéo dài 28 năm và
được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) giao nhiệm vụ và tài trợ một phần đã dựa trên
bộ dữ liệu lớn hơn nhiều so với những gì IARC đã kiểm tra hồi năm 2011. Đây là
đánh giá toàn diện nhất với hơn 5.000 nghiên cứu, trong đó 63 nghiên cứu được
công bố trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2022. Kết luận cụ thể liên quan tới
trường điện từ của các trạm BTS ảnh hưởng tới khả năng gây ung thư có các ý
chính sau:
- Với việc tiếp xúc toàn thân với sóng điện từ (EMF) từ các
trạm phát sóng cố định (như anten phát sóng hoặc trạm BTS), có bằng chứng với độ
tin cậy trung bình cho thấy nó có khả năng không làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch
cầu ở trẻ em. Ngoài ra, có bằng chứng với độ tin cậy thấp cho thấy nó có thể
không làm tăng nguy cơ mắc u não ở trẻ em. Hiện chưa có nghiên cứu nào đủ điều
kiện để đánh giá tác động của EMF từ các trạm phát sóng cố định đối với các loại
u ác tính ở người lớn.
- Đối với việc tiếp xúc với sóng EMF trong môi trường làm việc,
có bằng chứng với độ tin cậy thấp cho thấy nó có thể không làm tăng nguy cơ mắc
ung thư não hoặc u não. Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào về mối liên hệ giữa
việc tiếp xúc với EMF và nguy cơ mắc bệnh bạch cầu.
- Đánh giá về tác động của sóng EMF đối với nguy cơ mắc u
não ở trẻ em khi tiếp xúc với sóng từ các trạm phát sóng cố định cần được xem
xét thận trọng do số lượng nghiên cứu hiện có còn hạn chế. Tương tự, đánh giá về
mối liên hệ giữa u não và việc tiếp xúc EMF trong công việc cũng cần được cẩn
trọng, do sự khác biệt về nguồn phát và cách đo lường mức độ tiếp xúc giữa các
nghiên cứu.
Nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, chưa
có nghiên cứu nào đề cập chi tiết về vấn đề ảnh hưởng của các trạm thu phát
thông tin di động đến sức khỏe con người. Tuy nhiên, xác định đây là vấn đề
chung của toàn thế giới, Bộ Y tế và Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất quan điểm tuân theo các kết
luận,
khuyến nghị của WHO.
Bộ Y tế có báo cáo
Chính phủ số 1496/BYT-PB ngày 14/3/2025 về việc nghiên cứu ảnh hưởng việc lắp đặt,
vận hành trạm thu phát sóng tại khu vực dân sinh, thể hiện sự quan tâm liên
ngành đến vấn đề sức khỏe cộng đồng dựa trên cơ sở các tổ chức uy tín như Tổ chức
Y tế thế giới (WHO), Ủy ban quốc tế về bảo vệ bức xạ không ion hóa (ICNIRP) và
Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) đều thống nhất rằng khi tuân thủ các giới hạn
phơi nhiễm khuyến nghị, chưa có bằng chứng khoa học xác thực cho thấy trạm BTS
gây ảnh hưởng có hại đến sức khỏe cộng đồng.
UBND xã đề nghị Nhân
dân trên địa bàn không nghe theo các thông tin sai lệch, chưa được kiểm
chứng, đồng thời ủng hộ việc xây dựng và vận hành hợp pháp các trạm BTS,
góp phần phát triển hạ tầng viễn thông, phục vụ chuyển đổi số và phát triển kinh
tế – xã hội của địa phương.
Trường hợp phát sinh
ý kiến, kiến nghị liên quan đến việc lắp đặt và vận hành trạm BTS, đề nghị Nhân
dân phản ánh kịp thời về UBND xã hoặc cơ quan chức năng để được xem xét, giải
quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Tải về
Tải về