Người phụ nữ dân tộc Cor giữ lửa nghề đan lát ở xã vùng cao Trà Liên
Tôi trở lại thăm Trà Liên - một xã vùng cao của thành phố Đà Nẵng vào một ngày giữa tháng 12/2025 khi cơn bão số 13, 14 đã đi qua. Nằm trên đường ĐT 617, ngôi nhà nhỏ của chị luôn là địa chỉ quen thuộc cho bà con thôn 1 và các thôn lân cận thuộc xã Trà Liên mỗi khi đến đây trao đổi sản phẩm từ nghề đan lát thủ công truyền thống.

Bà Võ Thị
Thủy (ngồi bên trái) với công đoạn chẻ cây lùng làm nguyên liệu đan - Ảnh: Nguyễn Văn Sơn
Dưới
bóng cây râm mát bên mái hiên nhà, bà đang cặm cụi nhuộm nan, chúng tôi hỏi
bà nghe đâu nghề đan lát thủ công của đồng bào Cor ngày càng mai một đi phải
không?.Thay vì trả lời câu hỏi của chúng tôi, bà dẫn chúng tôi xuống nhà bếp và
chỉ lên đó có treo những sản phẩm đan lát đã lên màu cánh gián mà bà đã đan
xong cách đây vài ngày để kịp giao cho khách. Ở tuổi như tôi mà còn đan lát thì
không phải để kiếm tiền mà cái chính là đam mê của mình đó chú ơi ! Người phụ nữ
này là bà Võ Thị Thủy (sinh năm 1964) dân tộc Cor hiện ở tại thôn 1,
xã Trà Liên, thành phố Đà Nẵng, sinh ra và lớn lên ở xã Trà Kót (cũ) nay là xã
Trà Liên, thành phố Đà Nẵng, bà đã gắn bó với nghề đan lát từ thuở nhỏ cùng tất
cả các loại nguyên liệu đan gồm các cây tre, cây giang, cây nứa, cây lùng, cây
dứa rừng, cây mây,… tại các khu rừng cạnh nơi cư trú của người Cor sinh sống.
Theo bà Võ Thị Thủy, trong ký ức của mình, hình ảnh cả làng rộn ràng đan
lát trong những ngày không quá bận việc rừng, việc rẫy, độ vào tháng 7 đến
tháng 9 âm lịch, người Cor ở nhà tranh thủ đan lát chuẩn bị cho 1 mùa thu hoạch
và 1 mùa lễ hội mới, đã trở thành âm thanh quen thuộc, một phần của nhịp sống
quê hương. Khi trưởng thành, tôi lập gia đình và gắn bó nghề đan lát ngay
tại địa phương. Có lẽ nghề đan lát thủ công truyền thống của dân tộc Cor đã ngấm
vào máu thịt của tôi từ thuở bé. Mỗi khi cầm vào nan tre, cây giang, hay nan
cây lùng, cây mây tôi như thấy bàn tay cha mẹ, thấy cả hơi thở làng nghề của
ông cha. Nghề này không chỉ để mưu sinh, mà còn là ký ức, là hồn quê người Cor.
Bà Thủy với
công đoạn chọn lựa nan cho từng sản phẩm - Ảnh: Nguyễn Văn Sơn
Bà Thủy với
công đoạn nhuộm nan - Ảnh: Nguyễn Văn Sơn
Bà Thủy với
quy trình đan gùi - Ảnh: Nguyễn Văn Sơn
Với người Cor, tất cả những nguyên liệu từ cây tre, cây nứa, cây lồ ô, cây
giang, cây mây, cây lùng,…khi khai thác từ rừng được mang về nhà để đan tạo ra
các nhiều sản phẩm khác nhau, nên không được để quá lâu vì nguyên liệu khô sẽ
khó chẻ nan. Tuỳ theo từng sản phẩm mà bà Võ Thị Thủy có cách chặt ra thành từng
đoạn. Sau đó tiến hành xử lý các bước như làm sạch vỏ ngoài, chẻ, phơi khô, xử
lý bằng cách ngâm dưới nước suối. Dây mây cuộn lại để trong nhà bếp xông khói
khi cần sử dụng thì cắt ra thành nhiều đoạn phù hợp với sản phẩm đan vừa tiện
chẻ, vót, dễ sử dụng đem nhúng nước cho mềm rồi đan buộc cho từng sản phẩm. Ở
công đoạn chẻ nguyên liệu, người thợ phải tôn trọng nguyên tắc "cây tre
cây nứa, cây lồ ô, cây giang thì chẻ từ ngọn xuôi, song cây mây lóc từ gốc ngược. Riêng
cây lùng, thì chẻ từ gốc theo ngọn”. Có như thế, mới đảm bảo chất lượng của nguồn
nguyên liệu phục vụ quá trình đan lát sau này. Riêng các loại cây mây, sợi nan
lúc thì chẻ thành 4, thành 6, thành 8 bỏ ruột. Khi phơi sợi cây tre, cây nứa,
cây lồ ô, cây giang, mây, cây lùng gặp mưa thì sợi nan mất vẻ đẹp hoặc quá nắng
sợi nan mất vẻ tươi. Nếu phơi sợi mây chưa tới khô thì nước da mây sẽ úa, nếu
phơi quá khô thì nước da mấy kém phần óng ả. Đôi khi các nan đan được phơi nắng
tùy theo yêu cầu sản phẩm. Nếu nguyên liệu để quá khô hay quá ướt sẽ ảnh hưởng
việc đan lát. Nan sau khi chẻ chuốt phải có độ mềm, nhẵn, đều, để khi đan các
nan khít vào nhau và không tạo ra kẽ hở. Mỗi cây tre, cây nứa, cây lồ
ô, cây giang chỉ được lột hai đến ba nan là bỏ. Cây lùng chỉ lột lấy
phần cật, bỏ ruột. Nan chẻ xong, ngâm nước rồi sau đó mới được vót lại cẩn thận.
Trước khi đan chỉ cần nhúng qua nước nan sẽ phẳng, dẻo trở lại.
Trong số các sản phẩm từ đan lát truyền thống trên màu nan tự nhiên và thường
cũng chỉ thấy ở các loại gùi thì còn có loại thân gùi đan bằng
mây song (Re tà-luýt) được coi là mây tốt nhất, thân mây nhỏ, sợi mây dài,
dẻo thường dùng để đan các loại gùi từ gùi lúa, gùi củi, gùi đựng
măng. Người Cor dựng từ đáy lên 4 trụ làm điểm tựa cho vỉ trong tựa vào. Vỉ
trong đan thưa, hình lỗ lục giác áp vào các trụ làm điểm tựa để đan các sản phẩm
cần thiết gồm các loại gùi. Còn chân gùi, khung gùi phải làm bằng tre với
miệng gùi loe rộng được quấn mây rất đẹp, gùi có dây quàng qua vai và ách tỳ
vào gáy người đeo. Riêng chân gùi phải làm trước, phải uốn chân gùi, thân gùi
trước đó 10 - 15 ngày. Sau khi hoàn thiện từng sản phẩm thường được bảo quản
bằng cách treo lên gác bếp nhằm chống mối mọt và tạo màu đen đặc trưng do khói
bếp tạo thành màu sắc rất đẹp. Gùi là vật dụng được người Cor dùng nhiều
nhất bởi công dụng của nó. Chiếc gùi nhỏ, là vật dụng luôn được trẻ em nữ theo
mẹ, theo chị dùng vào việc bẻ măng, hái nấm. Gùi lúa lớn được phụ nữ dùng khi
phát nương, làm rẫy có thể chứa đựng tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống
hàng ngày, từ củ khoai, mớ rau hái trên nương đến con tôm, con cá theo gùi mang
về nhà phục vụ bữa ăn. Đây là một phương tiện vận chuyển quan trọng và không thể
thiếu trong đời sống của đồng bào Cor nơi đây. Bà Võ Thị Thủy chia
sẻ thêm.

Bà Thủy chia
sẻ những khó khăn trong nghề đan lát của người Cor với tác giả (bên phải) - Ảnh: Nguyễn Văn Sơn
Bà Võ Thị
Thủy đang chia sẻ những kinh nghiệm đan lát cho phụ nữ Cor trong thôn 1 - Ảnh: Nguyễn Văn Sơn
Theo tìm hiểu của chúng tôi, với rổ đựng rau (đéc nô), nia sẩy lúa gạo (pức/ka pứt), gùi đựng lúa
(ateo), gùi đựng măng (ro), gùi đựng thịt (ro), giỏ tuốt lúa, tấm phơi nông
sản (xe rả/xà đhót trít), gùi củi (ateo), giỏ đựng cơm (ro pớ pong xé) đây
là những sảm phẩm thuộc sở trường đan lát của bà Võ Thị Thủy. Để hoàn thiện một
sản phẩm đan lát bền đẹp phải mất ít nhất 3 - 5 ngày, gùi các loại thì mất từ
10 - 15 ngày mới xong, thậm chí có những sản phẩm mất cả tháng trời, đòi hỏi
người phụ nữ như bà Thủy cần phải có tính kiên nhẫn, tỉ mỉ và khéo léo cùng với
kinh nghiệm được tích lũy nhiều năm. Mỗi sản phẩm bà Thủy làm ra có giá bán từ
50-70 ngàn, 100-150 ngàn đồng, có sản phẩm từ 200-350 đến 500 ngàn và 700 ngàn
đồng,… được bà Thủy bán hoặc trao đổi các con vật nuôi như: con
heo, gà, vịt, đến lúa, gạo nhưng ít nhiều nhưng cũng giúp cho bà Thủy
có thêm khoản thu nhập trang trải cuộc sống mà vẫn cảm thấy thích thú với công
việc mưu sinh của mình. Bà Thủy bảo, ngày nào không cầm sợi mây đan
gùi thì ngứa tay chịu không nổi. Đây là nghề truyền thống của tộc người Cor nên
không bỏ được và nó đã thấm vào máu thịt của mình từ lâu.
Bà Dương Thị Quyên, một phụ nữ người Cor cùng thôn với bà Thủy
cho biết: Những sản phẩm từ đan lát của bà Thủy làm ra rất đẹp, giá
cả hợp lý, lại bền chắt nhiều bà con trong thôn đều đặt bà Thủy làm những
vật dụng cần thiết đơn thuần phục vụ sản xuất của bà con, luôn được
bà con trong thôn dùng trong sinh hoạt hằng ngày, trong canh tác nương rẫy, mưu
sinh, hái lượm đến dùng trong các lễ hội của gia đình.
Còn
bà Võ Thị Hương (sinh năm 1956) hiện sống ở thôn 2, xã Trà Liên, thành phố Đà Nẵng
chia sẻ: Trong thôn 1 này, người còn đan lát đẹp như bà Võ Thị
Thủy chỉ đếm trên đầu ngón tay. Sự kỳ công, giá trị của những sản phẩm
đã nói lên sự tài hoa, khéo léo của đôi bàn tay do bà Thủy làm ra. Trong
những năm qua, với sự nhiệt tình, say mê truyền nghề cho lớp trẻ và nhiều phụ nữ
người Cor trong thôn đến nhà bà Thủy học nghề cũng là giữ nghề đan lát truyền
thống để họ biết yêu hơn giá trị văn hóa truyền thống nên bà Võ Thị Thủy luôn
được đồng bào Cor xem như một nghệ nhân giữ lửa nghề đan lát thủ công truyền thống của
đồng bào Cor đang có nguy cơ bị mai một.
Trao đổi với
chúng tôi, ông Dương Minh Anh- Phó Chủ tịch xã Trà Liên, thành phố Đà Nẵng cho
biết: Những năm qua, hầu hết sản phẩm đan lát thủ công của bà Võ Thị Thủy làm ra đã
và đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ, do phải cạnh tranh với những sản
phẩm đồ dùng bằng nhựa vừa đa dạng lại vừa rẻ tiền. Hơn nữa các vật dụng truyền
thống được làm từ cây tre, cây nứa, lồ ô, cây mây, giang, cây lùng hiện nay rất
hiếm hoi, thậm chí không còn nguyên liệu, nguyên nhân có thể một phần tự phát
do bà con phát nương làm rẫy, trồng keo nguyên liệu, mặt khác nghề đan lát truyền
thống của đồng bào Cor tại xã Trà Liên hiện nay mai một theo thời gian do nhu cầu
phát triển của xã hội, KHCN phát triển các sản phẩm khác thay thế nhanh hơn,
nhiều hơn, thuận lợi hơn. Những tác động đó làm ảnh hưởng đến việc giữ
gìn, kế tục nghề đan lát thủ công truyền thống của người Cor xã Trà Liên.
Bà Võ Thị Thủy là người đang nỗ lực bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống,
trong đó có nghề đan lát của dân tộc Cor trên xã
vùng cao Trà Liên, thành phố Đà Nẵng là điều đáng quý và trân trọng./.
Tác giả:
Nguyễn Văn Sơn